DI TÍCH KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT CẤP THÀNH PHỐ CÔNG VIÊN KHU MỘ CỔ GÒ QUÉO “NƠI LƯU GIỮ CHIỀU SÂU VĂN HÓA VÀ LỊCH SỬ CỦA VÙNG ĐẤT PHƯƠNG NAM TỪ THỜI MỞ CÕI”

TIN NỔI BẬT

Năm 2024 – 2025, khuôn viên Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo được UBND thành phố Thủ Đức tiến hành chỉnh trang, cải tạo và phối hợp Trung tâm Bảo tồn Di tích Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ xếp hạng Di tích cấp Thành phố.

Đến ngày 12/9/2025, UBND phường Bình Trưng đã long trọng tổ chức Lễ đón nhận Bằng xếp hạng Di tích Kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố, theo Quyết định số 621/QĐ-UBND ngày 13/8 2025 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh về việc xếp hạng di tích cấp tỉnh, Thành phố đối với Công viên khu mộ cổ Gò Quéo.

Các đồng chí lãnh đạo trao Bằng xếp hạng Di tích cho Ban Quản lý di tích
Các đồng chí lãnh đạo chụp hình lưu niệm tại lễ đón nhận bằng xếp hạng Di tích Kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố

* LOẠI HÌNH DI TÍCH

Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo thuộc loại hình Di tích Kiến trúc nghê thuật

* SỰ KIỆN, NHÂN VẬT LỊCH SỬ  VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA DI TÍCH

Tổng quan về mộ cổ ở Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố lớn nhất Việt Nam. Đây là vùng đất bình ổn căn bản về môi trường sinh thái từ sau giai đoạn tân kiến tạo, với 3 dạng đồi gò trên thềm phù sa cổ từ bắc Củ Chi đến Thủ Đức, đồng bằng từ Hóc Môn về nội thành và nền đất trũng ở Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ. Với điều kiện địa lý tự nhiên ưu đãi, từ rất sớm Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành nơi quần cư của các lớp cư dân. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, thành phố đã có rất nhiều lần thay đổi về mặt hành chính, dân cư… Song Sài Gòn – Gia Định, và ngày nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh vẫn luôn là địa điểm trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa quan trọng bậc nhất của cả nước. Vị thế ấy không phải được gây dựng trong một sớm một chiều, mà là cả quá trình gầy dựng của rất nhiều thế hệ các lớp cư dân của Thành phố. Tài liệu khảo cổ học ghi nhận những bằng chứng về những lớp cư dân đầu tiên đã sinh sống liên tục ở đây từ 3.500 năm đến 1.500 năm cách ngày nay qua các dấu vết như: công cụ đá, đồ gốm, đồ đồng, đồ sắt, đồ thủy tinh, mộ chum, mộ đất, cọc gỗ nhà sàn … đã được các nhà khảo cổ học tìm thấy ở rất nhiều nơi trong thành phố như: Khu vực Bưu điện thành phố, Thảo Cầm Viên, Thư viện Khoa học Tổng hợp, Gò Sao, Rỏng Bàng, Bến Đò, Long Bửu, Gò Quéo, Khu Bao Đồng, Núi Đất, Giồng Cá Vồ, Giồng Cá Trăng, Giồng Đỏ, Giồng Phệt.

Bên cạnh các dấu vết, di chỉ khảo cổ trong lòng đất, Thành phố Hồ Chí Minh còn là nơi lưu giữ nhiều ngôi mộ cổ mà chủ nhân của các ngôi mộ cổ đó là các bậc tiền nhân, gắn với quá trình hình thành và phát triển của Thành phố như: Mộ Tổng trấn Thành Gia Định Lê Văn Duyệt (Bình Thạnh), mộ Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu, mộ Quận công Võ Di Nguy, mộ Quốc công Võ Tánh (Phú Nhuận), mộ ông Nghị viên địa hạt Đặng Tân Xuân (Tăng Nhơn Phú), mộ Tiền hiền Tạ Dương Minh (Thủ Đức), mộ Tiền hiền Trần Quang Đạo (Cần Giờ)… Dấu vết của các bậc tiền nhân được lưu giữ không chỉ trong thư tịch, tập quán, truyền miệng mà còn hiện hữu qua những ngôi mộ, đền thờ. Đây là những bằng chứng sống, minh chứng cho các giai đoạn, thời kỳ lịch sử của Thành phố.

Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như thời gian, khí hậu, biến động xã hội, quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, nhiều ngôi mộ đã được khai quật khảo cổ hoặc cải táng; trong đó phải kể đến khu mộ cổ Gò Quéo tọa lạc tại phường Bình Trưng. Có thể nói đây là khu mộ cổ gồm nhiều ngôi mộ hiện còn tồn tại duy nhất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Chính vì vậy mà nơi đã được chính quyền địa phương luôn quan tâm, giữ gìn, tôn tạo nơi đây thành Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo ngày càng khang trang, tôn nghiêm.

Khu mộ cổ Gò Quéo

Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo thuộc phường Bình Trưng (Thành phố Hồ Chí Minh).

Theo các nhà nghiên cứu, nhà khảo cổ, Khu mộ cổ Gò Quéo là khu nghĩa địa có từ thời nhà Nguyễn, gắn với quá trình Nam tiến, xây dựng và phát triển vùng đất Nam Bộ.

Về tên gọi Gò Quéo thì hiện nay chưa có tài liệu khoa học nào giải thích. Tuy nhiên theo dân gian truyền miệng, địa điểm này trước đây là một gò cát cao hơn xung quanh, trên gò có nhiều cây quéo mọc lên nên gọi là Gò Quéo, khu Gò Quéo được người xưa sử dụng làm nghĩa địa qua nhiều thời kỳ.

Về địa danh Bình Trưng, theo Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn, tỉnh Biên Hòa năm 1836 thì khu vực phường Bình Trưng và khu mộ cổ Gò Quéo hiện nay trước đây thuộc thôn Bình Trưng, tổng An Thủy Thượng, huyện Bình An, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa. Tổng An Thủy Thượng lúc này gồm 6 thôn: An Lợi, An Tài, Bình Khánh, Bình Phú Trung, Bình Trưng, Mỹ Thủy. Trong đó “Bình Trưng thôn ở xứ Giồng Ông Tố. Đông giáp thôn Tuy Thạnh (Tổng Thành Tuy Hạ, huyện Long Thành), lại giáp rừng chằm với thôn Mỹ Thủy. Tây giáp thôn Bình Khánh, có rạch nhỏ làm giới cũng giáp sông lớn. Nam giáp thôn Hưng Thạnh (Tổng Thành Tuy Hạ, huyện Long Thành) có rạch Hà làm giới, cũng giáp thôn Mỹ Thủy. Bắc giáp thôn Bình Phú Trung có rạch Bình Minh làm giới, lại giáp thôn Mỹ Thủy”

Sau đổi thuộc tổng An Bình, huyện Ngãi An, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa. Trải qua triều Thiệu Trị, Tự Đức đến thời kỳ Pháp thuộc, năm 1866 tách địa bàn huyện Ngãi An khỏi huyện Bình An tỉnh Biên Hòa để lập hạt thanh tra riêng.

Hạt thanh tra Ngãi An đóng lỵ sở tại Thủ Đức, gọi là hạt thanh tra Thủ Đức gồm các tổng: An Thổ, An Thủy, Chánh Thiện, An Điền, An Bình. Như vậy, đến thời kỳ Pháp thuộc khu vực này (làng Bình Trưng) thuộc tổng An Bình, hạt thanh tra Thủ Đức, sau đổi hạt thanh tra Sài Gòn rồi hạt tham biện Gia Định. Năm 1892, tổng An Bình có 10 làng: An Phú, Bình Lợi, Bình Thạnh, Bình Trưng, Đông Phú, Ích Phú, Mỹ Thủy, Phú Thọ, Tân Lập, Bình Thọ.

Năm 1911, làng Bình Trưng thuộc tổng An Bình, tỉnh Gia Định.

Năm 1939, làng Bình Trưng thuộc tổng An Bình, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Xã Bình Trưng thuộc huyện Thủ Đức,

Hiện nay, phường Bình Trưng thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.

Hiện nay, trong khuôn viên Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo có khoảng 20 ngôi mộ cổ, trong đó 17 ngôi mộ đơn táng và 3 ngôi mộ song táng. Các ngôi mộ được xây dựng vào nửa đầu thế kỷ XIX, nấm mộ dạng ngưu miên, với vật liệu xây dựng bằng hợp chất, hoặc hợp chất kết hợp với đá ong. Đây là vật liệu xây dựng đặc trưng của mộ cổ Nam Bộ trong hai thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX.

Trong số 02 ngôi mộ cổ đó, có 02 ngôi mộ được các nhà nghiên cứu, nhà khảo cổ xác định là mộ ông Tả tham tri Phạm Quang Triệt và mộ ông Tổng đốc Ninh Thái Phạm Duy Trinh. Căn cứ vào sự trùng hợp với ghi chép của Đại Nam chính biên liệt truyện về hậu duệ của ông Phạm Quang Triệt cho thấy nhiều khả năng ông Phạm Duy Trinh là con của ông Phạm Quang Triệt. Do một thời gian dài, khu mộ cổ Gò Quéo xuống cấp nghiêm trọng, bia mộ bằng đá của 02 ông đã được di dời về Bảo tàng lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh và Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh để bảo quản, lưu giữ.

Năm 2014, ngôi mộ cổ trong khuôn viên Đình thần An Khánh đã được khai quật khảo cổ, di dời và phục dựng tại đây. Theo các cụ cao niên, ngôi mộ này gắn với Đình thần An Khánh, gắn với lịch sử hình thành và phát triển của làng An Khánh xưa.

Năm 2016, một trong số những ngôi mộ cổ tại phường An Khánh được khai quật và phục dựng trong khuôn viên mộ cổ Gò Quéo.

Năm 2024 – 2025, khuôn viên Công viên mộ cổ Gò Quéo được chỉnh trang, cải tạo.

Hiện nay, Di tích Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo do Ban Quản lý di tích trực tiếp chăm sóc, quản lý, Ủy ban nhân dân phường Bình Trưng và Trung tâm Cung ứng dịch vụ văn hóa – thể thao phường Bình Trưng và các cơ quan, đơn vị liên quan bảo tồn, phát huy giá trị di tích.

SINH HOẠT VĂN HÓA, TÍN NGƯỠNG LIÊN QUAN ĐI TÍCH

Di tích Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo là nơi lưu giữ nhiều ngôi mộ cổ hiện nay còn tồn tại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó có mộ của ông Tả Tham tri Phạm Quang Triệt; mộ của ông Tổng đốc Ninh Thái Phạm Duy Trinh; mộ cổ trong khuôn viên Đình Thần An Khánh nên được người dân khu vực lân cận hoặc từ miền Trung vào thắp hương, thăm viếng. Mỗi năm, vào dịp lễ kỳ yên Đình thần An Khánh (từ ngày 15 đến 17 tháng 11 âm lịch), Ban Quý tế Đình đều đến cúng lễ tại mộ cổ từ 5 giờ đến 7 giờ 30 phút ngày 16 tháng 11 âm lịch.

KHẢO TẢ DI TÍCH

Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo có diện tích khoảng 8.000m2. Nơi đây được chỉnh trang, cải tạo năm 2024 – 2025 rất khang trang, sạch đẹp; có tường bao bảo vệ, cổng chính vào Công viên nằm về phía đường Võ Chí Công.

Di tích Kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo

Cổng được thiết kế dạng cổng tam quan với 4 trụ cách điệu chữ “Kim”, trên thân trụ trang trí hoa sen, cửa song sắt. Qua cổng là lối đi rộng, lát đá, thẳng đến nhà Văn bia. Nhà Văn bia được thiết kế dạng nhà lục giác với hai tầng mái, lợp ngói. Trụ bê tông giả gỗ, nền gạch. Trung tâm nhà Văn bia có đặt bia chất liệu xi măng, trên bia khắc nội dung:

Hình ảnh Văn bia
Nội dung Văn bia
BIA GHI DANH DI TÍCH KHU MỘ CỔ GÒ QUÉO
Khu mộ cổ Gò Quéo là nơi an nghỉ của các bậc Danh thần có công với đất nước. Đức ông quan đại thần Triệt Thanh Hầu Phạm Quang Triệt: (? – 1818), là bậc “Khai quốc công thần”, tài cao học rộng, phò vua giúp nước. Sử liệu ghi chép, tháng 10 năm 1794, đức ông Phạm Quang Triệt được thăng từ Cống sĩ viện lên Hàn lâm Thị học; tháng 4 năm 1803 ông được cử làm Ký lục Phiên Trấn; năm 1813 thăng làm Lại Bộ Tả Tham Tri. Cuối năm 1818 Đức ông qua đời, tháng 4 (nhuận) năm Kỷ Mão (1819) mộ phần xây xong, bia mộ được lập bởi người con nuôi là Quang Đạm. Đức ông Phạm Duy Trinh (?-1851) là con trai của Lại Bộ Tả Tham Tri Triệt Thanh Hầu Phạm Quang Triệt. Tiếp nối gia phong, Đức ông đã có nhiều cống hiến với nhân dân và đất nước, từng trải qua các chức vụ: Bố chính Biên Hòa; Tả Tham Tri Bộ Binh; Tuần Phủ Bắc Ninh; Hộ Lý Bắc Ninh – Thái Nguyên, Tổng đốc quan phòng. Đầu năm 1851 Đức ông qua đời, bia mộ được lập vào tháng 4 năm Tân Hợi (1851) bởi người con là Quang Bạc. Đức ông Trần Thống Hà Quảng Thống Sư, Danh lộc Tri thủy Bộ chi thần. Tục truyền, Đức ông là người có công lập ấp, giữ làng, an dân, lạc nghiệp, khi mất được dân chôn cất, tôn kính lập miếu thờ (sau là Đình Thần An Khánh). Đức ông Trần Thống Quân được nhân dân vùng An Khánh – Thủ Thiêm tôn vinh là Thành Hoàng Bổn Cảnh Đình Thần An Khánh. Truyền thống dân tộc Việt Nam lấy Đức làm đầu, lấy Hiếu, Nghĩa làm đạo lý dạy bảo con cháu “Uống nước nhớ nguồn – Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Các bậc Tiền nhân đã có công khai phá mở đất, lập làng, an dân, lạc nghiệp để ngày nay con cháu thụ hưởng, tiếp tục xây dựng phát triển quê hương, đất nước giàu đẹp. Tưởng nhớ công đức xưa, ngày nay trùng tu mộ phần, lửa hương tiếp nối. Ngày tốt lập Đông – Giáp Thìn (2024) Chính quyền – Mặt trận Tổ quốc và Nhân dân Thành phố Thủ Đức Kính cẩn lập bia  

Phía trước Văn bia là lư hương chất liệu xi măng. Nhà Văn bia là nơi để khách tham quan, nghiên cứu, dâng nén hương tưởng nhớ công ơn các bậc Tiền hiền có công trong việc giữ gìn, xây dựng và phát triển địa phương.

Tổng thể nhà Văn bia trong khuôn viên Di tích

Trung tâm của Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo là mộ ông Tả Tham tri Phạm Quang Triệt, mộ ông Tổng đốc Ninh Thái Phạm Duy Trinh; mộ cổ trong khuôn viên Đình thần An Khánh được di dời, phục dựng tại đây năm 2014. Ngoài ra còn có mộ cổ thuộc phường An Phú (nay là phường Bình Trưng) và các ngôi mộ hình dạng ngưu miên.

1. Mộ ông Tả Tham Tri Phạm Quang Triệt

Mộ nằm về phía Bắc của Công viên, hướng mộ quay về hướng Đông Bắc. Mộ được xây bằng hợp chất kết hợp với đá ong.Trong đó, đá ong chỉ được dùng cho xây dựng phần chìm, còn phần nổi của mộ được xây hoàn toàn bằng hợp chất. Ngôi mộ có bình đồ hình chữ nhật, dài nhất 8,5m;rộng nhất 5,5m. Các đoạn tường bao dày trung bình 0,56m. Bố cục kiến trúc từ ngoài vào trong như sau: Bình phong tiền, sân tế, cửa mộ, nhang án, bia mộ, nấm mộ, bình phong hậu.

Tổng thể nhà Văn bia trong khuôn viên Di tích

Bình phong tiền có kích thước: rộng đáy 2,5m; rộng thân 1,8m; dày trung bình 53cm. Mặt trước của bình phong tiền có khuông trang trí hình chữ nhật bên trong còn hình trang trí kỳ lân (Long Mã) cõng trên lưng cuốn thư. Sân tế được giới hạn bởi hai trụ chữ “Kim”. Qua khỏi sân tế là đến cửa mộ giới hạn bởi hai trụ búp sen kích thước cao 1m65, rộng; dày 50 cm. Nhang án dạng hình chữ nhật, thấp. Sau nhang án là bia mộ. Bia mộ được phục dựng từ bia mộ gốc đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh.

Chữ Hán trên bia mộ:

Phiên Âm: Hoàng Việt Hiển Khảo, Đồng Đức Công Thần Phụng Trực Đại Phu Chính Trị Khanh, Lại Bộ Tả Tham Tri Triệt tế hầu, Thụy Đôn Mẫn, Phạm quý công chi mộ Gia Long Kỷ mão niên nhuận nguyệt cốc đán Tự tử Quang Đạm lập bia Tạm Dịch: Mộ Cha họ Phạm tên thụy Đôn Mẫn, tước phong Triệt tế hầu là Đông đức công thần, chức Tả Tham Tri Bộ Lại, hàm Chính Trị Khanh cáo thụ Phụng Trực Đại Phu. Con thừa tự Quang Đạm lập bia ngày tốt tháng tư nhuận năm Kỷ Mão niên hiệu Gia Long (1819).  
Phần bia mộ phần ông Tả Tham tri Phạm Quang Triệt

Nấm mộ có dạng liếp hình chữ nhật, giật 02 cấp, kích thước dài 2,7m, rộng ngang 1,8m. Bình phong hậu dài 2m65; cao 1,7m; có bệ chân cao 40 cm dạng chân quỳ. Hai bên bình phong cách điệu hình cuốn thư gắn kết với tường bao, tạo thành vòng thành khép kín, bảo vệ nấm mộ ở trung tâm.

2. Mộ ông Tổng đốc Ninh Thái Phạm Duy Trinh

Mộ có cùng hướng và cách mộ ông Tả tham tri Phạm Quang Triệt khoảng 4,5m về bên phải. Mộ cũng được xây dựng bằng hợp chất kết hợp với đá ong. Kiến trúc mộ khép kín, quy mô khá lớn; dài nhất 8,5m; rộng nhất 7,2m.

Tổng thể Mộ phần ông Tổng đốc Ninh Thái Phạm Duy Trinh

Cổng vào mộ rộng 1,8m được giới hạn bởi 2 trụ chữ “Kim”. Qua cổng là đến bình phong tiền, kích thước cao 1m39; rộng 2m20; các mặt bên của bình phong không còn hoa văn trang trí. Qua bình phong tiền là đến sân thờ rồi đến lối vào nấm mộ. Lối vào được giới hạn bởi hai trụ búp sen cao 1m85 tạo lối vào rộng 1,6m; mép trong trụ cổng búp sen cách bia mộ của nấm mộ 50 cm. Bia mộ được phục dựng năm 2015 theo Bia mộ Tổng đốc Ninh Thái Phạm Duy Trinh hiện đang được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh. Bia mộ hình chữ nhật, vát góc phần trán bia. Kích thước cao 92cm, rộng ngang 64cm. Trán bia chạm nổi chính giữa hình vòng tròn với biểu tượng âm dương, ngang hai bên là dạng vân mây. Diềm bia chạm nổi hình hoa cúc dây uốn lượn hình sin.

Cổng vào mộ phần ông Tổng đốc Ninh Thái Phạm Duy Trinh

Nội dung chữ Hán ghi trên bia mộ

Phiên âm Đại Nam Hiển khảo, Nguyên thụ Trung Phụng Đại phu, Binh bộ Tả Tham tri Bắc Ninh Tuần phủ Hộ lý Ninh thái Tổng đốc quan phòng Phạm Khắc Đông thụy Trang Khải phủ quân chi mộ Tuế thứ Tân hợi mạnh hạ nguyệt cát Tự tử Quang Đoàn lập bia Tạm dịch Mộ cha họ Phạm tên tự Khắc Đông thụy Trang Khải nguyên Tuần phủ Bắc Ninh, hộ lý ấn quan phòng Tổng đốc Ninh Thái, Tả Tham Tri Binh bộ cáo thụ Trung Phụng Đại Phu. Con thừa tự Quang Đoàn lập bia ngày tốt tháng tư năm Tân Hơi (1951)
Phần bia mộ ông Tổng đốc Ninh Thái Phạm Duy Trinh

Nấm mộ hình chữ nhật, dài 3m (bao gồm cả nhà bia), rộng trung bình 90 cm; cao khoảng 70 cm so với nền bao. Bình phong hậu rộng 2,2m dày trung bình 65cm; cao 2m29, hai mặt bên của bình phong hậu phối trí hai cánh cuốn thư gắn kết với đoạn tường bao dài 5,8m; rộng trung bình 5m tạo thành vòng tường bao khép kín. Phía sau bình phong hậu được bao bọc kín bởi rễ cây bồ đề.

Giữa hai ngôi mộ ông Tả Tham tri Phạm Quang Triệt và mộ ông Tổng Đốc Ninh Thái Phạm Duy Trinh có một ngôi mộ cổ được xây bằng vật liệu đá ong, kiến trúc rất đơn giản, kích thước dài 3m; rộng 1m80.

3.Mộ cổ trong khuôn viên Đình Thần An Khánh

Ngôi mộ được khai quật khảo cổ, di dời và phục dựng trong khuôn viên Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo vào năm 2014. Mộ xây dựng hoàn toàn bằng chất liệu hợp chất; mặt bằng tổng thể hình chữ nhật với kích thước rộng 7,2m; dài 8,7m. Bao gồm các bộ phận kiến trúc: Bình phong tiền, cửa mộ, hệ thống tường thành, trụ biểu – trụ sen, nhang án, nấm mộ, bình phong hậu và hệ thống tường bao. Từ ngoài vào trong, kết cấu kiến trúc mộ có cấu tạo như sau:

Án ngữ chính giữa lối vào cửa mộ là bình phong tiền, hình chữ nhật, chân bình phong cách điệu dạng chân quỳ. Kích thước: rộng 2,2m; cao 1,35m so với nền hiện tại; dày 0,4m. Mặt trước của bình phong tiền đắp nổi hình chim hạc trắng trong tư thế xoè ngang cánh, đầu ngoái về phía sau. Khu vực sân tế ở trước nấm mộ với diện tích 9,12m2 . Sau phần sân tế là cửa mộ rộng 4,2m, hai bên là hai trụ biểu và tường thành chạy ngang tạo ranh giới khu trước mộ và khu mộ. Kích thước trụ vuông 65x65cm; cao còn lại 1m. Trên hai tường thành từ trụ sen cửa mộ chạy ngang sang hai bên đắp nổi mô hình “con cù” đối xứng. Án ngữ giữa cửa mộ là nhang án, đúc hình hộp chữ nhật, mô phỏng dạng sập thờ chân quỳ.

Lối vào cửa mộ và bình phong tiền mộ cổ trong khuôn viên Đình Thần An Khánh

Tiếp giáp sau nhang án, ở chính giữa khu vực mộ là nấm mộ, kết cấu dạng liếp chữ nhật giật 2 cấp, bo tròn ở bốn góc của cả cấp trên và cấp dưới. Liếp dưới kích thước rộng 3,3m; dài 4,675m; dày liếp khoảng 15cm. Liếp trên kích thước rộng 2,5m; dài 3,875m; cao liếp 20cm.

Sau nấm mộ 30cm là khu vực bình phong hậu. Bình phong hậu có kết cấu dạng hình chữ nhật, đặt trên bệ mô phỏng dạng sập chân quỳ. Mặt trước bình phong hậu tạo 3 ô hộc hình chữ nhật, ô hộc chính giữa có ghi chữ 神 (Thần), ô hộc ở hai bên đắp và vẽ hai bình bông. Kích thước bình phong hậu rộng ngang 2,4m; cao 1,7m, dày bình phong 52,5cm, phần chân bình phong mô phỏng dạng bệ sập chân quỳ dày khoảng 95cm. Hai bên hông của bình phong hậu đắp hình con cù.

Gian thờ và mặt trước bình phong hậu mộ cổ trong khuôn viên Đình thần An Khánh

Từ khu vực bình phong hậu chạy ngang sang hai bên là tường bao và trụ biểu khép lại khu mộ.

Tổng thể mộ cổ trong khuôn viên Đình thần An Khánh

4. Mộ cổ thuộc phường An Phú (nay là phường Bình Trưng)

Mộ song táng thuộc phường An Phú (Thủ Đức), nay là phường Bình Trưng – Thành phố Hồ Chí Minh – được khai quật khảo cổ, di dời và phục dựng trong khuôn viên Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo vào năm 2016. Mộ xây dựng hoàn toàn bằng chất liệu đá ong, có quy mô kiến trúc lớn, mặt bằng tổng thể hình chữ nhật, gồm: bình phong tiền, sân mộ, cổng mộ, nấm mộ, hệ thống tường thành, trụ sen, bình phong hậu khép kín. Hai nấm mộ nằm song song, được giới hạn bởi các phiến đá xanh khép kín thành hình chữ nhật, chữ trên bia mộ đã hoàn toàn phơi mờ, bong tróc.

Phần Mộ cổ song táng thuộc phường An Phú(nay là phường Bình Trưng)

Qua kết quả khai quật khảo, các nhà khảo cổ đoán định ngôi mộ song táng này có niên đại thế kỷ XIX. Theo ThS. Nguyễn Thị Hà “Trong xây dựng mộ, đá ong được dùng khá sớm và dùng khá phổ biến. Việc dùng đá ong để xây mộ thường gặp trong những ngôi mộ có niên đại sớm nhất là từ nửa đầu thế kỷ XIX. Đến tận ngày nay chúng ta vẫn còn vẫn còn gặp nhiều ngôi mộ được xây bằng đá ong ở Hóc Môn Thủ Đức, Dĩ An…”

Tổng thể mộ cổ bằng đá ong thuộc phường An Phú (nay thuộc phường Bình Trưng)

5. Các ngôi mộ cổ hình dạng ngưu miêm trong khuôn viên di tích

Bên cạnh các ngôi mộ cổ được các nhà khoa học nghiên cứu, xác định thân thế, chủ nhân, niên đại mộ. Trong khuôn viên Di tích Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo tập trung chủ yếu các ngôi mộ cổ mà nấm mộ có dạng ngưu miên. Theo thống kê có khoảng 15 ngôi mộ với nấm mộ dạng ngưu miên, trong đó có 02 mộ song táng. Kiến trúc mộ đơn giản gồm: bia mộ, nấm mộ. Bia mộ thường được làm bằng hợp chất hoặc đá, đặt trước nâm mộ, bia mộ thường có dạng tam sơn với ô hộc trung tâm hình chữ nhật. Đây là nơi khắc chữ về thân thế, sự nghiệp của người nằm dưới mộ. Hai bên cách điệu hình cuốn thư. Phần lớn chữ khắc trên các bia mộ đã bong tróc, không còn nhận biết, chỉ có một số ít bia mộ còn đọc được hai chữ Việt Cố (越  故). Theo TS. Phạm Đức Mạnh “Quốc hiệu “Việt Cố” là Quốc hiệu chỉ xuất hiện trên bia mộ quý tộc ở Đàng trong và Nam Bộ; ở Đàng ngoài không có…Ở Nam Bộ, các bia mộ có Quốc hiệu “Việt Cố” được ghi nhận trong khung niên biểu từ 1751 đến 1845…”

Nấm mộ được xây dựng bằng hợp chất, cốt đá ong, đắp nổi to dần về cuối mộ. Hai bên thân nấm mộ đắp ô cuộn xoáy ốc nằm đối xứng. Sàn quanh nấm mộ hình chữ nhật cắt góc và đôi khi giật 2 cấp.

Các ngôi mộ có hình dạng Ngưu miên trong khuôn viên di tích
Các ngôi mộ có hình dạng Ngưu miên trong khuôn viên di tích

Mộ song táng là hai nấm mộ dạng ngưu miên nằm song song nhau, kích thước nấm mộ tương đối nhỏ so với mộ đơn táng. Trên thân mộ không có hóa văn trang trí.

Mộ song táng có hình dạng Ngưu miên

Ngoài ra trong khuôn viên di tích Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo còn có 05 ngôi mộ cận hiện đại. Các ngôi mộ này có kiến trúc đơn giản, nấm mộ thấp so với vùng đất xung quanh, mộ được xây dựng bằng gạch, xi măng, bia mộ bằng đá hoặc xi măng, trên bia mộ có ghi chữ quốc ngữ về thông tin, tên, tuổi chủ nhân ngôi mộ. Các ngôi mộ này có niên đại nửa cuối thế kỷ XX.

SƠ ĐỒ PHÂN BỐ DI VẬT, CỔ VẬT, BẢO VẬT QUỐC GIA THUỘC DI TÍCH

Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo đã được chỉnh trang, cải tạo rất khang trang, sạch đẹp. Trong thời gian tới, Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo chính là địa điểm nghiên cứu, tham quan đặc biệt đối với những người có nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử, khảo cổ, về dấu tích của người xưa gắn với lịch sử hình thành và phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh.

Sơ đồ phân bố mộ cổ trong khuôn viên di tích

* Giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học của di tích

Mộ cổ Gò Quéo là một khu mộ cổ chứa dựng nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ.

Đây là khu nghĩa địa có từ thời nhà Nguyễn, gắn với quá trình Nam tiến của người xưa, gắn với lịch sử khai hoang lập ấp, an cư lạc nghiệp, xây dựng và phát triển vùng đất Nam Bộ nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng hiện còn tồn tại đến nay. Với số lượng mộ cổ là 20 ngôi mộ cổ, các ngôi mộ cổ được xây dựng bằng hợp chất hoặc hợp chất kết hợp với đá ong, với kiểu dáng kiến trúc mộ đa dạng, từ nấm mộ hình chữ nhật giật cấp đến nấm mộ dạng ngưu miên, mang đặc trưng kiến trúc mộ cổ Nam Bộ thế kỷ XVIII – XIX, trong đó có các ngôi mộ đã được các nhà nghiên cứu, nhà khảo cổ xác định đó là mộ ông Tả Tham tri Phạm Quang Triệt, ông làm quan triều Gia Long từng giữ chức Tả Tham Tri của Bộ Lại.

Ngôi mộ được lập năm 1819. Mộ ông Tổng đốc Ninh Thái Phạm Duy Trinh, ông làm quan triều Minh Mạng rồi triều Thiệu Trị. Có cha là Phạm Quang Triệt. Ngôi mộ được lập năm 1851. Ngoài ra còn có các ngôi mộ cổ được khai quật, di dời và phục dựng tại đây như mộ cổ trong khuôn viên Đình Thần An Khánh.

Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo là nguồn sử liệu vật thật để nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán của người xưa. Việc nghiên cứu tìm hiểu về Khu mộ cổ Gò Quéo nói riêng và di tích khảo cổ nói chung trên địa bàn

Thành phố sẽ góp phần bổ sung nguồn tư liệu, minh chứng hiện vật thật về lịch sử hình thành và phát triển của Sài Gòn – Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và vùng đất Nam Bộ nói chung.

Hiện nay, có thể nói Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo là Công viên về mộ cổ duy nhất, đầu tiên trên địa bàn Thành phố. Đây là địa điểm để khách tham quan, thăm viếng, nghiên cứu và tìm hiểu về lịch sử vùng đất, lịch sử danh nhân, lịch sử kiến trúc, văn hóa…, góp phần giáo dục truyền thống, đạo lý uống nước nhớ nguồn cũng như giới thiệu đến tham quan về một đối tượng nghiên cứu đặc thù khách của khảo cổ học lịch sử Việt Nam, đó là loại hình mộ cổ.

Có thể nói Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo là Công viên mộ cổ duy nhất ở Thành phố. Đây là địa điểm lưu giữ nhiều ngôi mộ cổ có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, trong tương lai việc bảo tồn và phát huy giá trị tốt sẽ  góp phần thu hút khách tham quan, thăm viếng, nghiên cứu và tìm hiểu về lịch sử vùng đất, lịch sử danh nhân, lịch sử kiến trúc, văn hóa…, góp phần giáo dục truyển thống lịch sử cũng như quảng bá di sản văn hóa Việt Nam.

Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo là di tích kiến trúc nghệ thuật độc đáo, phản ánh một giai đoạn quan trọng trong lịch sử khai mở vùng Nam Bộ. Công viên  Khu mộ cổ Gò Quéo là nguồn sử liệu vật thật để nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán của người xưa. Việc nghiên cứu tìm hiểu về Khu mộ cổ Gò Quéo nói riêng và di tích khảo cổ nói chung trên địa bàn Thành phố sẽ góp phần bổ sung nguồn tư liệu, minh chứng hiện vật thật về lịch sử hình thành và phát triển của Sài Gòn – Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và vùng đất Nam Bộ nói chung.

Có thể nói Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo là Di tích Công viên mộ cổ duy nhất, đầu tiên trên địa bàn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là nơi lưu giữ nhiều ngôi mộ cổ có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Đây là địa điểm để khách tham quan, thăm viếng, nghiên cứu và tìm hiểu về lịch sử vùng đất, lịch sử danh nhân, lịch sử kiến trúc, văn hóa…, góp phần giáo dục truyền thống, đạo lý uống nước nhớ nguồn cũng như giới thiệu đến khách tham quan về một đối tượng nghiên cứu đặc thù của Khảo cổ học Lịch sử Việt Nam đó là loại hình mộ cổ.

Trong tương lai, việc bảo tồn và phát huy tốt giá trị sẽ góp phần thu hút khách tham quan, thăm viếng, nghiên cứu và tìm hiểu về lịch sử vùng đất, lịch sử danh nhân, lịch sử kiến trúc, văn hóa…., góp phần giáo dục truyển thống lịch sử cũng như quảng bá di sản văn hóa Việt Nam.

PHƯƠNG HƯỚNG BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH

Việc bảo tồn và phát huy giá trị Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo luôn được Đảng ủy – Ủy ban nhân dân phường Bình Trưng quan tâm, sâu sát ngạy từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Vì vậy mà, ngay từ khi di tích còn là Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo đã được quan tâm chỉnh trang, cải tạo, trùng tu nhằm hạn chế tác động ở mức thấp nhất đến các ngôi mộ do các ngôi mộ nằm ngoài trời, chịu tác động trực tiếp của thời tiết, khí hậu, … Đặc biệt quan tâm thường xuyên bảo vệ, duy tu định kỳ. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về bảo vệ di tích, xử lý nghiêm các hành vi xâm hại. Phân công trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc bảo vệ và phát huy giá trị mộ cổ.

Hiện nay, Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục về giá trị lịch sử, khoa học, nghiên cứu của khu mộ thông qua các trang mạng xã hội, tạo mã QR giới thiệu về di tích; tăng cường giáo dục cho thế hệ trẻ về ý thức bảo vệ di sản văn hóa, trong đó có loại hình mộ cổ.

KẾT LUẬN

Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo là một khu mộ cổ chứa đựng nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ. Đây là khu nghĩa địa có từ thời nhà Nguyễn hiện còn tồn tại đến nay, gắn với quá trình Nam tiến của người xưa, gắn với lịch sử khai hoang lập ấp, lập làng, an cư lạc nghiệp, xây dựng và phát triển vùng đất Nam Bộ nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Với số lượng gồm 20 ngôi mộ cổ, các ngôi mộ cổ được xây dựng bằng hợp chất hoặc hợp chất kết hợp với đá ong, kiểu dáng kiến trúc mộ đa dạng, từ nấm mộ hình chữ nhật giật cấp đến nấm mộ dạng ngưu miên, mang đặc trưng kiến trúc mộ cổ Nam Bộ thế kỷ XVIII – XIX. Trong đó, có các ngôi mộ đã được các nhà nghiên cứu, nhà khảo cổ xác định đó là mộ ông Tả Tham tri Phạm Quang Triệt, ông làm quan triều Gia Long, từng giữ chức Tả Tham Tri của Bộ Lại. Mộ lập năm 1819. Mộ ông Tổng đốc Ninh Thái Phạm Duy Trinh, ông làm quan triều Minh Mạng rồi triều Thiệu Trị. Có cha là Phạm Quang Triệt. Mộ lập năm 1851. Ngoài ra còn có các ngôi mộ cổ được khai quật, di dời và phục dựng tại đây như mộ cổ trong khuôn viên Đình Thần An Khánh, mộ cổ phường An Phú. Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo là nguồn sử liệu vật thật để nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán của người xưa. Việc nghiên cứu tìm hiểu về Khu mộ cổ Gò Quéo nói riêng và di tích khảo cổ nói chung trên địa bàn Thành phố góp phần bổ sung nguồn tư liệu, minh chứng hiện vật thật về lịch sử hình thành và phát triển của Sài Gòn – Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, có thể nói Công viên Khu mộ cổ Gò Quéo là Công viên về mộ cổ duy nhất, đầu tiên trên địa bàn Thành phố. Đây là địa điểm để khách tham quan, thăm viếng, nghiên cứu và tìm hiểu về lịch sử vùng đất, lịch sử danh nhân, lịch sử kiến trúc, văn hóa…, góp phần giáo dục truyền thống, đạo lý uống nước nhớ nguồn cũng như giới thiệu đến khách tham quan về một đối tượng nghiên cứu đặc thù của Khảo cổ học Lịch sử Việt Nam đó là loại hình mộ cổ.