Lịch sử dân tộc Việt Nam thế kỷ 20 đã khắc ghi một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt, một bước ngoặt làm thay đổi vận mệnh đất nước và mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Đó chính là ngày 05/6/1911, khi người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, với hoài bão cháy bỏng cứu dân, cứu nước, đã rời Bến cảng Nhà Rồng, bắt đầu cuộc hành trình vạn dặm đầy gian truân để tìm ra con đường giải phóng dân tộc. 114 năm đã trôi qua, nhưng tầm vóc, ý nghĩa lịch sử và những bài học từ sự kiện trọng đại này vẫn còn nguyên giá trị, tiếp tục soi đường cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vững bước trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Từ nỗi đau mất nước đến quyết tâm tìm một con đường mới
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, Việt Nam chìm trong đêm dài nô lệ dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp. Các phong trào yêu nước như Cần Vương, Đông Du, Duy Tân dù sục sôi khí thế nhưng cuối cùng đều lần lượt thất bại. Nguyên nhân sâu xa là do các sĩ phu, nhà yêu nước thời bấy giờ chưa tìm được một hệ tư tưởng dẫn đường đúng đắn, một phương pháp cách mạng phù hợp với xu thế của thời đại và thực tiễn đất nước. Sự bế tắc về đường lối cứu nước đặt ra một yêu cầu cấp thiết phải có một hướng đi mới, một con người đủ tâm, đủ tầm để gánh vác sứ mệnh lịch sử.
Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, chứng kiến nỗi thống khổ của đồng bào, Nguyễn Tất Thành đã sớm nuôi trong mình lòng yêu nước nồng nàn và ý chí cứu nước mãnh liệt. Khác với các bậc tiền bối, Người không đi theo những lối mòn đã thất bại mà quyết tâm “đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”. Quyết định này thể hiện một tư duy độc lập, sáng tạo và một tầm nhìn vượt thời đại. Người hiểu rằng, muốn đánh đuổi kẻ thù, muốn giải phóng dân tộc, trước hết phải hiểu rõ kẻ thù, phải học hỏi kinh nghiệm của thế giới, tìm ra một vũ khí tư tưởng sắc bén hơn, một con đường cách mạng khoa học hơn.
Hành trình 30 năm gian khổ và sự gặp gỡ định mệnh với chân lý thời đại
Ngày 05/6/1911, trên con tàu Amiral Latouche Tréville, với tên gọi Văn Ba, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc, mang theo hành trang là lòng yêu nước vô hạn và khát vọng tìm đường cứu nước cháy bỏng. Cuộc hành trình kéo dài 30 năm đã đưa Người qua nhiều quốc gia, nhiều châu lục, từ Pháp, Anh, Mỹ đến các nước thuộc địa ở châu Phi, châu Á. Người đã làm đủ mọi nghề để kiếm sống – từ phụ bếp, cào tuyết, đốt lò đến thợ ảnh, làm vườn – nhưng trên hết, Người không ngừng học tập, quan sát, nghiên cứu và tham gia vào các phong trào đấu tranh của công nhân và các dân tộc bị áp bức.
Những năm tháng bôn ba đã giúp Người nhận thức sâu sắc bản chất của chủ nghĩa đế quốc, thực dân, đồng thời cảm thông sâu sắc với cuộc sống cùng khổ của các dân tộc thuộc địa và giai cấp cần lao trên toàn thế giới. Chính từ thực tiễn phong phú đó, cùng với việc nghiên cứu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới như Cách mạng Mỹ, Cách mạng Pháp và đặc biệt là Cách mạng Tháng Mười Nga, tư duy của Nguyễn Tất Thành ngày càng được khai sáng.
Một bước ngoặt quyết định đã đến vào tháng 7/1920, khi Người đọc được “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lênin. Luận cương đã giải đáp những câu hỏi lớn mà Người hằng trăn trở, chỉ ra con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc – tên gọi của Người lúc bấy giờ – đã hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba, tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin con đường cứu nước chân chính: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn lịch sử, kết tinh của trí tuệ, nhãn quan chính trị thiên tài và kinh nghiệm thực tiễn phong phú của Người.
Con đường cứu nước Hồ Chí Minh – Ánh sáng soi đường cho cách mạng Việt Nam
Việc tìm ra con đường cứu nước theo chủ nghĩa Mác-Lênin của Nguyễn Ái Quốc không chỉ là một sự kiện có ý nghĩa to lớn đối với cuộc đời hoạt động cách mạng của Người mà còn là một bước ngoặt căn bản đối với cách mạng Việt Nam. Con đường đó đã chấm dứt sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước kéo dài mấy chục năm đầu thế kỷ 20.
Nguyễn Ái Quốc đã dày công truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng chân chính. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 03/02/1930 chính là kết quả tất yếu của quá trình đó. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, dân tộc Việt Nam đã làm nên những kỳ tích lịch sử:
- Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945: Đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
- Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954): Mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
- Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975): Với Đại thắng mùa Xuân năm 1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Thắng lợi của công cuộc Đổi mới (từ năm 1986 đến nay): Đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Những thắng lợi vĩ đại đó là minh chứng hùng hồn cho sự đúng đắn của con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, khẳng định vai trò lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tiếp tục phát huy tinh thần Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước trong giai đoạn mới
Kỷ niệm 114 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước là dịp để chúng ta ôn lại một chặng đường lịch sử hào hùng, bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với công lao trời biển của Người. Quan trọng hơn, đây là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, nhận thức sâu sắc hơn nữa trách nhiệm của mình trong việc kế thừa và phát huy những di sản quý báu mà Người để lại.
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, những thời cơ và thách thức đan xen, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh càng trở nên cấp thiết. Đó là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường duy nhất đúng đắn mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn. Đó là phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đó là không ngừng đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Bác hằng mong muốn.
Thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay cần ý thức sâu sắc rằng, được sống trong hòa bình, độc lập, tự do là nhờ sự hy sinh xương máu của biết bao thế hệ cha anh, trong đó có công lao khai mở của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi vậy, mỗi thanh niên cần ra sức học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi đạo đức cách mạng, sống có lý tưởng, hoài bão, khát khao cống hiến, xung kích đi đầu trong mọi lĩnh vực, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
Ngọn đuốc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thắp lên từ Bến Nhà Rồng năm xưa sẽ mãi mãi soi đường cho dân tộc Việt Nam vững bước tiến lên. Tinh thần của Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước sẽ tiếp tục là nguồn động lực mạnh mẽ, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, vượt qua mọi gian nan, thử thách, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, sánh vai với các cường quốc năm châu như sinh thời Bác hằng mong ước.
PHÒNG KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ VÀ THÔNG TIN (TỔNG HỢP)